" Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không " (Ma-thi-ơ 10:8)

Trang chủ   |  Bản đồ   |  Liên lạc   |  Hướng dẫn    
Học Kinh Thánh Sách Cơ Đốc Miễn Phí Sách điện tử miễn phí Về chúng tôi
 



 Những bài giảng với các chủ đề đặc biệt của Mục sư Paul C. Jong

 

Đức Chúa Jêsus Christ
( )


Danh xưng Jêsus, trong tiếng Gờ-rét là Iesous, xuất phát từ tiếng Hê-bơ-rơ tên (yeh-ho-shoo'-ah), có nghĩa là “Đức Giê Hô Va là sự cứu rỗi.”

Christ là chữ trong tiếng Hê-bơ-rơ và chữ trong tiếng Gờ-rét, có nghĩa là “Đấng được xức dầu.” Danh xưng Christ trong Tân ước được gọi là Đấng Messiah trong Cựu ước. Từ ngữ “”(ho khris-tos) thường xuất hiện trong bốn sách Tin Lành là từ “Christ” được đặt trước bởi mạo từ xác định “duy nhất” (the) có ý nói với chúng ta rằng Chúa Jêsus chắc chắn chính là Đức Chúa Trời. Nói cách khác, Đức Chúa Cha, đã sai Con Một của Ngài xuống thế gian này để giải cứu loài người khỏi mọi tội lỗi.

Nói một cách chính xác thì hai danh xưng “Jêsus” và “Christ” không thể thay thế cho nhau được. Danh xưng “Jêsus” là tên của Đấng Cứu Thế là Đấng đã đến như Người trung gian của loài người, như là Đấng trung bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời. Nhưng danh xưng “Christ” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”, tên này có nguồn gốc từ những truyền thống của vùng Trung Đông cổ xưa – đó là, từ nghi lễ của sự lựa chọn số người để mang những chức vụ cao trọng bằng cách xức dầu cho họ.

Đối với người Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu ước, thì truyền thống này được xuất phát từ chính mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Họ xức dầu cho những tiên tri, những thầy tế lễ và các vua (I Các vua 19:16, Thi thiên 133:2). Đây là nghi lễ để xác nhận cách công khai trước mặt mọi người rằng những người này đã được Đức Chúa Trời lựa chọn phù hợp với trách nhiệm của mỗi người. Tuy nhiên, những hình thức nghi lễ như vậy của thời Cựu ước đã chỉ có hiệu lực cho một thời điểm nào đó, là khi những người được giao phó cho những trách nhiệm như vậy còn sống, cho dù họ không có khả năng làm tròn trách nhiệm của họ cách hoàn hảo. Những sự việc này ngụ ý rằng dân Y-sơ-ra-ên cần chờ đợi Đấng Toàn Hảo, là Đấng được chính Đức Chúa Trời xức dầu.

Trong một ngữ cảnh như thế, đã có sự giáng sanh của một Đấng, là Người được Đức Thánh Linh xức dầu cách đặc biệt để làm trọn sự công chính của Đức Chúa Trời. (Ma-thi-ơ 3:15-17, Mác 1:10-11, Lu-ca 3:21-22). Chính Đức Chúa Jêsus đã xác nhận cho điều này, “Thần Đức Chúa Trời ngự trên Ta. Vì Ngài đã xức dầu cho Ta đặng truyền Tin lành cho kẻ nghèo…”(Lu-ca 4:18; Ê-sai 6:1) Vì thế, danh xưng “Christ” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”, là Đấng cứu dân Ngài ra khỏi tội. Danh xưng “Christ” không chỉ bao hàm những trách nhiệm như là Đấng Cứu Chuộc và Đấng Trung Bảo, mà còn là quyền thế và năng lực của Ngài được bày tỏ bởi việc làm trọn những trách nhiệm này của Ngài cách hoàn hảo.



1. Những thuộc tính của Đấng Christ


Đấng Christ đã có ngay cả trước khi sáng thế (Ê-phê-sô 1:4) Để giải thích cho những ý định mà Đức Chúa Trời đã có ngay cả trước khi sáng thế, Phao-lô đã nói, “để làm sự định trước đó trong khi kỳ mãn – hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất.” (Ê-phê-sô 1:10).

Để làm trọn ý muốn của Ngài, Đức Chúa Trời đã sai Con Độc Sanh của Ngài, là Đấng đã được hứa và Đấng được xức dầu, đến trong thế gian này. Gia phổ của Con Đức Chúa Trời được trình bày chi tiết hơn trong giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Áp-ra-ham – đó là, Ngài sẽ đến như một người trong dòng dõi Aùp-ra-ham, và các dân sẽ nhờ Ngài mà được phước (Sáng thế ký 22:17-19). Đó là lời hứa của Đức Chúa Trời.

Trong khi ban phước cho các con trai của mình, Gia-cốp cũng nói rằng Đấng Messiah sẽ đến thuộc dòng dõi của Giu-đa (Sáng-thế-ký 49:10) Những nhà tiên tri sau đó đã mặc khải chi tiết hơn về những thuộc tính và những chức vụ của Đấng Messiah. Theo Ê-sai 53, đã tiên tri rằng Đấng Christ phải gánh lấy tội lỗi của dân Ngài trên thân thể Ngài, bị đóng đinh, chịu thương khó dưới tay của con người và bị họ ruồng bỏ, cuối cùng chịu chết và chôn.

(1) Thần tính của Đức Chúa Jêsus Christ: Đức Chúa Jêsus Christ không chỉ hiện diện trước khi sáng thế, nhưng Ngài đã hiện diện như một Đức Chúa Trời thật và bất diệt. Nói xa hơn nữa thì mặc dù Ngài đã đến trong thế gian này trong xác thịt của một con người, nhưng Ngài vẫn tiếp tục là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1,14). Như Rô-ma 9:5 chép, “Ngài là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời.”

Bài tín điều của hội thánh Đức Chúa Trời về thần tính của Đức Chúa Jêsus Christ không phải là một bài tín điều do con người tạo ra, vì điều này được tìm thấy trong sự mặc khải của chính Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 16:17). Hơn nữa, tất cả những lẽ thật trong Kinh thánh đều diễn tả thần tính của Đấng Christ cách rõ ràng, chứ không phải cách mập mờ (Mi-chê 5:2, Ê-sai 9:6). Trong Tân ước, thần tính thật của Chúa Cứu Thế thường được bày tỏ bởi chính Đấng Christ cách trang trọng. Phi-e-rơ cũng đã xưng nhận với Chúa Jêsus rằng, “Ngài là Đấng Christ, là Con của Đức Chúa Trời hằng sống” (Ma-thi-ơ 16:16, Mác 8:30, Lu-ca 9:20)

Hơn nữa, Phao-lô cũng nói rằng, “Đức Chúa Jêsus Christ] Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ” (Phi-líp 2:6). Giăng, trong khi ca ngợi Đấng Christ cũng xưng nhận, “Cha yêu Con và tỏ cho mọi điều Cha làm: Cha sẽ tỏ cho Con công việc lớn lao hơn những việc nầy nữa, để các ngươi lấy làm lạ lùng.” (I Giăng 5:20) Khi thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe hỏi Chúa Jêsus, “Hãy cho chúng ta biết có phải ngươi là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời không?” Chúa Jêsus đã trả lời, “Thật như lời ngươi vừa nói.” (Ma-thi-ơ 26:63-64, Mác 15:2)

Trong những lần khác, Chúa Jêsus cũng nói rằng Ngài và Đức Chúa Cha là một (Giăng 10:30), và rằng Ngài đã tồn tại trước Áp-ra-ham (Giăng 8:58). Ngoài ra, Đấng Christ đã nói đến vai trò của Ngài như là Thầy tế lễ thượng phẩm, và sự vinh hiển mà Ngài đồng hưởng với Đức Chúa Cha trước khi sáng thế (Giăng 17:5). Hơn nữa, khi Đấng Christ tha thứ tội lỗi của con người và chữa lành mọi bệnh tật cho họ, cũng như khi Ngài khuyên nhủ những môn đệ của Ngài tin nơi Ngài, tất cả những điều này còn thùy thuộc vào sự nhận thức của họ về Thần tính của Ngài.

Đức Chúa Jêsus Christ là Ngôi Hai của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, là Đấng hành động như Con của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 16:16; 26:63-64). Theo như thiên sứ đã đến thăm Ma-ri, Con Trai mà Ma-ri sẽ sanh sẽ được gọi là Con Trai Thánh của Đức Chúa Trời (Lu-ca 1:35). Ngay sau khi Chúa Jêsus chịu báp tem bởi Giăng, có một giọng nói từ Trời công nhận rằng, “Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Ma-thi-ơ 3:17, Mác 1:10 và Lu-ca 4:22).

Điều này có nghĩa rằng phép báp tem của Ngài không phải đơn giản là một nghi lễ, nhưng là điều được chấp thuận bởi Đức Chúa Cha. Phép báp tem của Chúa Jêsus biểu hiện rằng Chúa Jêsus đã nhận gánh mọi tội lỗi của con người trên chính Ngài. Đó là cáchụ Ngài đã làm trọn sự công chính của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 3:15). Ngay trước khi Chúa Jêsus chịu báp tem, Ngài đã nói với Giăng “Bây giờ cứ làm đi (có nghĩa là, hãy làm báp tem cho Ta),vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy” (Ma-thi-ơ 3:15). Kinh thánh trình bày rằng Đức Chúa Jêsus Christ có cùng quyền năng đặc biệt như Cha (Giăng 5:26). Thánh Phao-lô gọi Đấng Christ là “chính Con” của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:32). Và Giăng nói rằng Đấng Christ là “Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời” (Giăng 1:1). Ông cũng mô tả Ngài như là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời (Giăng 1:14, 3:16, và cũng hãy xem trong 5:18, là chỗ mà chính Chúa Jêsus gọi Đức Chúa Trời là Cha của Ngài.)

(2) Nhân tính của Đức Chúa Jêsus Christ: Nhân tính của Đấng Christ cũng được nhấn mạnh trong Tân ước. Con của Đức Chúa Trời được sanh ra “trong hình hài giống như con người” (Phi-líp 2:7-8). Ngài cũng được gọi là “Đức Chúa Jêsus Christ, là người” (I Ti-mô-thê 2:5). Mặc dù Ngài chính là Đức Chúa Trời, nhưng Ngài hiện thân trong hình hài của một con người và sống giữa chúng ta (Giăng 1:14). Vì thế, Ngài đã chịu báp tem bởi Giăng Báp-tít. Ngài sống giữa vòng loài người như một con người, Ngài chia sẻ với họ những nỗi buồn và niềm vui. Và Ngài cũng ăn những đồ ăn giống như họ. Ngài không chỉ là một con người trong hình thể bên ngoài mà còn trong cá tính của Ngài. Giống như những người khác, Ngài cũng là con cháu của A-đam (gia phổ trong Lu-ca 3:38). Và Ngài được sanh ra bởi một nguời đàn bà (Lu-ca 2:6-7; Ma-thi-ơ 1:18-25 và Ga-la-ti 4:4). Trong số tổ tiên của Ngài là Aùp-ra-ham và Đa-vít (Ma-thi-ơ 1:1).

Mặc dù chính Chúa Jêsus không có tội lỗi, Ngài đã đến trong thế gian này trong xác thịt yếu đuối của một con người. Nói cách khác, Đấng Christ đã đến “trong hình hài xác thịt tội lỗi” và đã chịu báp tem bởi Giăng. Ngài đã làm trọn mọi sự công chính của Đức Chúa Trời (Giăng 19:30). Dù cho Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta với phép báp tem của Ngài và chịu thương khó, Ngài cũng không khác biệt với những người khác (Ê-sai 53:2-3).

Tuy nhiên cho dù Đấng Christ đã có bản tính con người giống như chúng ta, nhưng Ngài đã không bao giờ chịu khuất phục trước sự cám dỗ của ma quỷ. Theo tác giả của sách Hê-bơ-rơ, Đấng Christ đã “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15). Chúa Jêsus đã mang tội lỗi chỉ bởi vì Ngài đã gánh tội lỗi của thế gian trên mình Ngài bằng cách chịu báp tem bởi Giăng, và đó là lý do tại sao Ngài đã chịu đóng đinh vì mọi tội nhân. Đề cập đến Đấng Christ, Hê-bơ-rơ 7:26 chép, “Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời.”



Ba chức vụ của Đấng Christ


Có ba loại người được xức dầu trong thời Cựu ước. Đó là: tiên tri, thầy tế lễ và vua (I Các vua 19:16; Xuất 40:13-15; II Các vua 9:3).

Đấng Christ là Tiên Tri và Giáo Sư được xức dầu bởi Đức Thánh Linh. Và Ngài cũng là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm. Những khái niệm của nhiều vai trò mà Đấng Christ mang đều là lý lẽ thuộc Kinh thánh. Phục-truyền 18:15 chép, “Từ giữa anh em ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một đấng tiên tri như ta; các ngươi khá nghe theo đấng ấy!” (xem thêm câu 18). Trong Thi-thiên 110:4, Đức-Giê-Hô-Va đã gọi Đấng Christ bằng cách nói “Ngươi là thầy tế lễ đời đời”. Xa-cha-ri 6:12-13 trình bày vai trò Vua của Đấng Christ bằng cách chép rằng “Người là CHỒI MÓNG” sẽ “mang sự oai nghiêm” và “ngồi cai trị trên ngôi của Ngài.” Ba trách nhiệm này của Đấng Christ đã được làm trọn khi Ngài đến trong thế gian, mang lấy tất cả tội lỗi của thế gian bằng cách chịu báp tem bởi Giăng, chịu đóng đinh và đổ huyết Ngài trên Thập tự giá, và sống lại từ cõi chết.

A. Tiên Tri: Như những tiên tri trong Cựu ước, Đấng Christ đã làm tròn vai trò tiên tri của Ngài bằng cách bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời và thực hiện Lời của Đức Chúa Trời đến dân sự của Ngài. Nhưng Đấng Christ không chỉ là một nhà tiên tri hay một sứ giả đơn giản. Ngài là Vị Tiên Tri lớn nhất của loài người. Lời của Ngài là Lời hoàn hảo và trọn vẹn của Đức Chúa Trời mà không có tiên tri nào có thể thêm vào hay bớt đi. Đó là vì mọi giá trị về khôn ngoan thông sáng được dấu kín trong Ngài (Cô-lô-sa 2:3). Cũng bởi vì Ngài là “Con Độc Sanh, là Đấng ở trong lòng Cha” (Giăng 1:18).

Thông điệp của Đấng Christ được làm trọn khi Ngài hoàn thành sứ mệnh của Ngài : để làm trọn sự công chính của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus đã chịu báp tem bởi Giăng, và đổ Huyết Ngài trên Thập tự giá; Và Ngài gọi mọi tội nhân để được bôi xóa mọi tội lỗi của họ trong sự công chính mà Ngài đã hoàn tất. Vì thế, sự hiểu biết thật như thế về Đức Chúa Trời và sự dạy dỗ về sự cứu rỗi không thể đạt đến mà không có lòng tin vào phép báp tem của Đấng Christ và Huyết Ngài trên Thập tự giá. Những người không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì họ không tin danh Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, và vì thế họ vẫn còn đầy tội lỗi (Giăng 3:18). Họ cũng không thể tìm được con đường của sự sống đời đời. Bởi vì sự dạy dỗ của Đấng Christ có uy quyền và thế lực như Nhà Tiên Tri, khiến người nghe vâng phục Lời của Ngài.

B. Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm: Trong Thi-thiên 110:4, nói về Đấng được xức dầu của Ngài, Đức Chúa Trời đã nói, “Ngươi là thầy tế lễ đời đời theo ban Mê-chi-xe-đéc.” Điều này có nghĩa là Đấng Christ là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm là một kết quả của sự kêu gọi và bổ nhiệm đặc biệt và độc nhất của Đức-Giê-Hô-Va. Những thầy tế lễ trong Cựu ước, những người đã phục vụ trong Đền tạm hay Đền thờ, là những người báo hiệu sự đến này của Đấng Christ và báo trước Đấng Christ là một Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm trọn vẹn và đời đời. Ngài hành động như Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm trọn vẹn. “Vả Đấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.” (Hê-bơ-rơ 9:24).

Có ba khía cạnh về nhiệm vụ của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Đấng Christ.

Thứ nhất, Ngài đã xem chính Ngài như của lễ hi sinh đời đời vì tội lỗi của chúng ta. Hay nói cách khác thì Đức Chúa Jêsus Christ đã mua chuộc tất cả loài người khỏi sự hủy diệt bằng phép báp tem và sự đổ huyết của Ngài. Ngài đã hoàn thành sự công chính của Đức Chúa Trời bằng cách đạt được bởi sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta. Sự hi sinh đền tội của Đức Chúa Jêsus đã được nói trước và biết đến nhiều ngàn năm qua phương pháp dâng tế lễ dưới những nghi lễ dâng của tế lễ bởi việc đặt tay. Nói cách đặc biệt thì điều này được bày tỏ qua biểu tượng của sự đặt tay trên đầu của con chiên và huyết của nó.

Trái ngược với sự dâng tế lễ tượng trưng và lặp đi lặp lại của A-rôn và những thầy tế lễ khác trong Cựu ước, Đấng Christ đã đến trong thế gian chỉ một lần, và bằng cách gánh tội lỗi của thế gian trên thân thể Ngài qua phép báp tem mà Ngài đã nhận từ Giăng và chết trên Thập tự giá, Ngài đã làm trọn mọi sự công chính của Đức Chúa Trời một lần đủ cả. Đó là lý do Ngài đã chịu báp tem và đã dâng mình làm tế lễ trọn vẹn trên Thập tự giá như trong Hê-bơ-rơ 9:26 chép, “hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài chỉ hiện ra một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.”

Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh lấy tội lỗi của thế gian bởi phép báp tem của Ngài và rồi mang nó đến Thập tự giá (Ma-thi-ơ 3:13-17). Đấng Christ bày tỏụ cho chúng ta rằng chính Ngài đã hi sinh như “Của Lễ Chiên Con của chính chúng ta.” Bởi sự hi sinh chính mình Ngài cho tội lỗi của con người, Ngài đã trả hết cái giá của sự cứu chuộc với Đức Chúa Trời vì dân sự của Ngài. Như trong Hê-bơ-rơ 9:28 chép, “Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người.” Ngài đã không đến bởi ý nghĩa của huyết dê đực hay bò con; nhưng Ngài đã đến trong Nơi Chí Thánh một lần đủ cả bởi huyết của chính Ngài, để được sự chuộc tội đời đời. (Hê-bơ-rơ 9:12). Chúng ta nhận được điều này bởi sự chấp nhận phép báp tem của Ngài và Thập tự giá. Ngài cũng giống như những thầy tế lễ thượng phẩm của thời Cựu ước, là Đấng đã đi vào nơi Chí Thánh bởi huyết của sự hi sinh trong Ngày Đại lễ Chuộc Tội.

Cũng một thể ấy, bởi báp têm của thân thể Ngài, Đấng Christ cũng đã nhận tội lỗi của thếă gian chuyển qua Ngài, và thăng thiên sau khi đã đền mọi tội lỗi cho thế gian bởi huyết trên Thập tự giá, do đó Ngài bước vào nơi Tôn Nghiêm của Thiên Đàng bởi chính huyết hi sinh của Ngài. Bởi thế, Đấng Christ đã cứu tất cả những ai tin phép báp tem và huyết của Ngài ra khỏi tội lỗi và hình phạt.

Trên hết mọi sự đó là sự cứu rỗi dân sự Ngài ra khỏi những tội lỗi của họ, Đấng Christ đã có thể thực hiện mọi công tác của Ngài, bao gồm việc chịu báp tem bởi Giăng và sự đổ huyết của Ngài trên Thập tự giá. Với sự “vâng phục tự nguyện” của Ngài - đó là, bởi sự chịu báp tem - Đấng Christ đã gánh tất cả tội lỗi của loài người, và với sự “vâng phục chủ động” – đó là bởi sự mang lấy tội lỗi của thế gian đến Thập tự giá và chịu đóng đinh - Ngài đã làm trọn sự công chính của Đức Chúa Trời cách toàn vẹn. Vì thế khi chúng ta tin điều này thì chúng ta đủ tư cách nhận sự cứu rỗi. Bởi việc đến trong thế gian này và hi sinh thân thể của Ngài như của một của lễ cho tất cả nhân loại, Đấng Christ đã làm trọn mọi công việc công chính của Đức Chúa Trời. Bởi làm điều đó, Ngài đã cứu dân Ngài, là những tội nhân (bởi vì sự hư hỏng của A-đam), ra khỏi mọi tội lỗi của họ. Vì công tác này mà Đấng Christ đã thực hiện trọn vẹn chương trình công chính của Đức Chúa Trời cách. Bởi việc ban phép báp tem và huyết của Ngài cho dân sự của Ngài, Đấng Christ đã khiến cho họ có thể được nhận sự công chính của Đức Chúa Trời.

Khía cạnh thứ hai về chức vụ tế lễ của Đấng Christ là cầu thay. Ngài không chỉ làm cho con người có thể dể dàng đến gần Đức Chúa Trời, nhưng hơn thế nữa, Ngài làm cho họ có thể vững lòng đến gần ngôi ơn phước (Hê-bơ-rơ 4:16, xem thêm trong 10:19). Đấng Christ không chỉ dạy người ta cầu nguyện như thế nào (Lu-ca 11:1-4, Mác 6:9-13), nhưng Ngài cũng bảo lãnh cho những lời cầu nguyện của những ai cầu nguyện cách thành thật trong Danh của Ngài trước mặt Đức Chúa Trời, và bởi sự cầu khẩn Đức Chúa Trời dựa trên những công việc của Chúa Jêsus, Ngài khiến cho những lời cầu nguyện của người ta được đáp ứng. Chính Đấng Christ cầu thay cho dân sự của Ngài, và Ngài hành động như Đấng Trung Bảo, là Đấng Biện Hộ thay cho họ và bảo vệ họ trước mặt Đức Chúa Trời.

Những công việc như thế đã được làm trọn khi Đấng Christ thi hành chức vụ của Ngài trên thế gian này (Lu-ca 22:32, 23:34; Giăng 17), và những điều đó tiếp tục được làm trọn cho đến hiện nay, ngay cả sau khi Ngài thăng thiên và bước vào nơi Thánh của Thiên đàng để ngồi bên hữu Đức Chúa Cha (Rô-ma 8:34). Đấng Christ hoàn toàn hiểu được tất cả những sự đau khổ và buồn bã của con người, Ngài biết rõ những nhu cầu của con người và đã đến gần với những nhu cầu như thế bằng một trái tim cảm thông và thương xót. Như trong Hê-bơ-rơ 4:15 chép, “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” Những lời cầu nguyện của Ngài phản ánh sự cảm thông những nhu cầu của con người cách sâu sắc.

Khía cạnh thứ ba của chức vụ tế lễ của Đấng Christ là cầu xin phước lành cho dân sự của Ngài. Trong Cựu ước, một trong những nhiệm vụ của các thầy tế lễ là đặt tay của họ trên dân sự và chúc phước cho họ. Đức Chúa Trời đã hứa rằng khi những thầy tế lễ chúc phước cho con cháu của Y-sơ-ra-ên trong danh Đức-Giê-Hô-Va, thì Ngài chắc chắc sẽ ban cho họ những ơn phước của Ngài (Dân-số-ký 6:22-27). Cũng một thể ấy, khi Đấng Christ đang thi hành chức vụ của Ngài trên thế gian này, thì sự hiện có của Ngài chính đã là một ơn phước rồi, và khi Ngài thăng thiên, Ngài cũng giơ tay của Ngài ra và chúc phước cho những môn đồ (Lu-ca 24:49-51). Hơn thế nữa, ngay cả hiện nay Ngài chúc phước cho dân sự của Ngài với đủ mọi thứ phước thiêng liêng trên trời (Ê-phê-sô 1:3). Qua Thánh Linh của Ngài, Ngài ban cho họ những ân tứ của Thiên đàng và đổ cho họ những cơn mưa phước lành không dứt.

Như vậy, Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời là Đấng không ai có thể so sánh, vì chỉ có Đấng Christ mới có thể trở nên của lễ hi sinh chuộc tội, và đứng về phía dân sự của Ngài, chỉ có mình Ngài mới có thể làm trọn Luật Pháp cách trọn vẹn. Như thế, chỉ mình Đấng Christ là Đấng Trung Bảo mang đến cho chúng ta những ơn phước trên Trời. Hiện nay, nếu có những người nào không tin nơi chức vụ tế lễ của Ngài, họ tất nhiên sẽ không tìm thấy được một thầy tế lễ nào khác có thể chuộc tội cho họ. Bởi vì họ không thể tìm được bất cứ một người có thể làm người trung bảo với Đức Chúa Trời, và thay vì nhận được những ơn phước trên trời, họ sẽ đối diện với sự đoán phạt đời đời của họ.

C. Vua: Đấng Christ cũng được xức dầu làm Vua trong nhiệm vụ của Ngài, như các vua trong thời Cựu ước. Nhưng Ngài không giống như các vua thời trước, là những người đạt được quyền lực và vinh quang bởi sức mạnh. Dĩ nhiên, Đấng Chirst đã được xức dầu là vị Vua đời đời, và là vị Vua trị vị bằng quyền lực vô hạn, công bình và chân lý.

Giăng đưa ra sự chú ý về lẽ thật rằng Vương Quốc của Đấng Christ “chẳng phải thuộc về thế gian” (Giăng 18:36). Mặt khác, Phao-lô dạy rằng Nước Đức Chúa Trời được thiết lập chỉ bởi “sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh” (Rô-ma 14:17). Tác giả của sách Hê-bơ-rơ nói rằng Vua này thống trị bằng Lời của Ngài: “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.” (Hê-bơ-rơ 4:12). Hơn thế nữa, Vua tối cao của Đức Chúa Trời không giới hạn trong nước Do Thái. Đấng Christ là Đầu của Hội Thánh, hội của những tín đồ của Ngài (Ê-phê-sô 4:15).

Hội thánh này đã được mua chuộc khỏi sự thống trị của ma quỷ, và được xây dựng bằng huyết của Đấng Christ. Hội thánh của Ngài được Đức Thánh Linh dẫn dắt, và nó thuộc về Đấng Christ đời đời. Như là vị Vua, Đấng Christ bảo vệ Hội Thánh của Ngài khỏi bất cứ những hiểm nguy nào, Ngài không cho phép bất cứ thế lực nào, không cần biết chúng là gì, đến gần Hội thánh của Ngài. Ngay cả nếu những thế lực đó là những cánh cổng của Aâm phủ, chúng cũng không thể thắng được Hội thánh (Ma-thi-ơ 16:18)

Hơn nữa, sự cai trị của Ngài là toàn vẹn và nhân từ. Qua sự cai trị như vậy, Ngài khiến dân sự của Ngài phục tùng uy quyền của Ngài và vâng phục Lời của Ngài. Vả lại, ngay cả những người không nhận ra sự tối cao của Ngài cũng không thể thoát khỏi sự cai trị của Ngài, vì Đức Chúa Cha đã cho phép Con cai trị toàn cả vũ trụ. Cha đã ban cho Đấng Christ tất cả quyền lực. Vì thế Chúa Jêsus nói “Tất cả quyền lực trên trời và bên dưới đất đã giao cho Ta” (Ma-thi- 28:18). Phao-lô viết rằng sự chiến thắng của Đấng Christ đã truất bỏ các quyền cai trị của các thiên sứ ác (Cô-lô-se 2:15). Thánh Giăng nói Đấng Christ là “Chúa của các vua trong thế gian” (Khải huyền 1:5).

Muốn biết thêm về “Đức tin trong bài tín điều các Sứ đồ”? Xin ấn vào biểu tượng bên dưới để nhận sách miễn phí của Tín điều các Sứ đồ.
The faith of the Apostles' creed

Quyền lực tối cao của Đấng Christ có vẻ như bị lờ đi trong thế gian này, và sự vinh hiển của Ngài có thể thấy như bị lăng mạ, sỉ nhục, và bị giấu kín bởi kẻ thù ma quỷ của Ngài (Thi thiên 89:51). Nhưng sự oai nghi của Ngài tiếp tục tỏa sáng trên Thiên đàng như Vua của các vua, Chúa của các chúa (Khải huyền 19:16). Cuối cùng, Đấng Christ sẽ trở lại trong đám mây, và Ngài sẽ ban vinh quang cho những người đã tin và ban sự xấu hổ cho những người đã từ chối Ngài (Ma-thi-ơ 25:31-46). Khi thời điểm này đến, uy quyền của Đấng Christ sẽ được bày ra mọi nơi trên trời và dưới đất qua sự công chính của Ngài (II Phi-e-rơ 3:13, Khải huyền 21).

Trong Tân ước, Đấng Christ là Nhà Tiên Tri, và cùng lúc Ngài cũng là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và là Vua. Khi Đấng Christ phán như một Nhà Tiên Tri, thì những sự dạy dỗ của Ngài được kèm theo với quyền lực của Ngài như vị Vua (Lu-ca 4:32). Khi Đấng Christ thừa nhận với Phi-lát rằng Ngài quả thật là một vị Vua, Ngài cũng nói rằng Ngài đã đến trong thế gian này như một Nhà Tiên Tri để làm chứng cho lẽ thật (Giăng 18:37). Khi Đấng Christ làm những phép lạ, quyền lực tối cao của Ngài được bày tỏ ra, những phép lạ như thế được củng cố bởi những sự dạy dỗ như tiên tri của Ngài, và những phép lạ này được ban cho bởi sự nhân từ như thầy tế lễ của Ngài (Ma-thi-ơ 8:17).

Trở lại

 


Sách in   |  

 
Bible studies
    Bài giảng
    Quan điểm đức tin
    Phúc âm là gì?
    Những thuật ngữ Kinh thánh
    Hỏi Đáp về đức tin Cơ Đốc
 

register as a coworker
Partner's Zone
MFC
   
Copyright © 2001 - 2019 The New Life Mission. All Rights Reserved.