" Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không " (Ma-thi-ơ 10:8)

Trang chủ   |  Bản đồ   |  Liên lạc   |  Hướng dẫn    
Học Kinh Thánh Sách Cơ Đốc Miễn Phí Sách điện tử miễn phí Về chúng tôi
 



 Những bài giảng với các chủ đề đặc biệt của Mục sư Paul C. Jong

 

Bài giảng về Con Thánh 9



Môi-Se Truyền Lệnh Dâng Tế Lễ Gì Để Làm Chứng ?


<Ma-thi-ơ 8:1-4>

“Khi Đức Chúa Jêsus ở trên núi xuống, có đoàn dân đông lắm theo Ngài. Nầy, có một người phung đến gần, lạy Ngài, mà thưa rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi sạch được. Đức Chúa Jêsus giơ tay rờ người, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì người phung được sạch. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng người rằng: Hãy giữ, chớ nói cùng ai; song hãy đi tỏ mình cùng thầy cả, và dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để làm chứng cho họ..’”



Tội lỗi được so sánh với bệnh phung


Ở đây Chúa Jêsus phán với chúng ta rằng những ai là người nhận sự tha tội nên dâng của lễ như mạng lệnh của Môi se để làm chứng. Họ nói rằng triệu chứng của căn bệnh kéo dài trong 6 năm đầu. Bệnh kéo dài cách âm thầm trong 6 năm đầu, nhưng năm thứ bảy nó bộc phát ra ngoài. Đây là đặc tính đặc biệt bệnh lý của bệnh phung.

Kinh văn ở trên nói với chúng ta về việc Chúa Jêsus chữa lành một người phung. Đây là một câu chuyện thật đã từng xảy ra, và qua câu chuyện, Đức Chúa Trời cũng bày tỏ bản chất tội lỗi của chúng ta, cũng như nói với chúng ta rằng Ngài cũng đã giải quyết nan đề tội lỗi một lần đủ cả.

Người bị bệnh phung nói ở đoạn Kinh thánh trên thật sự muốn được chữa lành, và đây là lý do tại sao ông ta đến với Chúa Jêsus, không che giấu, nhưng bày tỏ bệnh của ông. Người bị bệnh phung này tin rằng không có gì là không thể thực hiện được bởi Lời của Chúa Jêsus, và ông cũng tin rằng Lời của Chúa Jêsus cũng có thừa khả năng chữa lành bệnh của ông ta.

Thấy đức tin của người phung giống như của thầy đội, Chúa Jêsus đã làm sạch ông ta. Cốt lõi của bài học qua câu chuyện này thì không chỉ nói đến sư chữa lành tật bệnh, nhưng nó cũng nói thế nào chúng ta được chữa lành tật bệnh tội lỗi.

Người bị bệnh phung ở đây ám chỉ một sự thật là chúng ta có bệnh tật của tội lỗi ở trong lòng. Từ lúc mới sanh ra từ trong lòng mẹ, tất cả chúng ta đều được sanh ra với tật bệnh tội lỗi. Khi chúng ta được sanh lần đầu, chúng ta không nhận thấy chúng ta là những tội nhân xấu xa, nhưng một khi chúng ta lớn lên, chúng ta nhận thấy rằng thật sự chúng ta là gian ác, mà những người khác cũng gian ác, và tất cả nhân loại đều gian ác.

Nhưng Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua đoạn Kinh thánh trên rằng nếu con người gian ác đầy trọn này đến với Chúa Jêsus và nhận ra bản chất thật của họ mà không chút che giấu, và nếu họ có đức tin mà nói rằng: “Nếu Ngài muốn, tôi tin rằng Ngài có thừa khả năng làm sạch con người tội lỗi như tôi,” Thật vậy Chúa Jêsus vui lòng chữa lành tật bệnh tội lỗi của họ.

Chúa chữa lành cho người phung một lần hay hai lần? Đoạn văn này nói với chúng ta rằng Chúa Jêsus chữa lành người phung lập tức. Tội lỗi của chúng ta không được chữa lành trong nhiều giai đoạn, nhưng một lần đủ cả. Nếu chúng ta có đức tin trong Lời của Đức Chúa Trời, thì bởi việc biết và tin Đức Chúa Trời là Đấụng cất tất cả tội lỗi của con người một lần đủ cả, chúng ta có thể nhận sự tha tội một lần cho tất cả. Tội lỗi của chúng ta không bao giờ được chữa lành qua nhiều giai đoạn.

Người phụ nữ khốn khổ vì bệnh xuất huyết được chữa lành một lần cho tất cả chỉ bởi chạm vào vạt áo của Chúa Jêsus (Mác 5:29). Bà được thoát khỏi chẳng những triệu chứng của bệnh xuất huyết, nhưng căn gốc của nó nữa. Na-a-man, vị tướng của quân đội nhà vua Sy-ri, cũng được chữa lành bệnh phung một lần đủ cả (2 Các Vua 5:14), và người bệnh phung trong đoạn Kinh thánh trên cũng được tẩy sạch khỏi bệnh phung tức thì.



Có sự khác biệt gì giữa Tôn giáo và người của Đức tin?


Vì sự ngu dại của họ phát xuất từ sự thiếu hiểu biết lẽ thật, tôn giáo tin rằng họ có thể nhận sự tha tội bởi ăn năn hàng ngày, dù cho họ sống trong tội lỗi mỗi ngày. Nhưng đối với dân sự của đức tin là những người sống theo Lời của Đức Chúa Trời, tất cả những nan đề của tội lỗi đã được giải quyết một lần đủ cả, và họ sống giữa vòng ân điển của Đức Chúa Trời.

Hội thánh là nơi tập họp những người theo Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta phải nhận ra rằng những người Sa-đu-sê và người Pha-ri-si, mặc dù họ tự nhận là tin Đức Chúa Trời, không một ai được chữa lành bởi Chúa Jêsus, nhưng những người được chữa lành ngay lập tức bởi Chúa Jêsus là những người giống như người phụ nữ mất huyết và người phung, không thể làm bất cứ điều gì cho bệnh tật của họ bởi việc làm riêng của họ.

Nếu chúng ta có thể giải quyết vấn đề tội lỗi trong lòng của chúng ta bởi việc làm riêng của chúng ta, cầu nguyện ăn năn, và viêc lành, như thế sẽ không cần Chúa Jêsus đến thế gian này. Và nếu chúng ta tin rằng chúng ta có thể giải quyết những nan đề của tội lỗi trong cách này, chúng ta sẽ không bao giờ có thể gặp Chúa Jêsus cho những ngày còn lại của đời sống chúng ta. Nhưng vấn đề tội lỗi của chúng ta không thể giải quyết với bất cứ những gì chúng ta làm hay chúng ta cố gắng bao nhiêu, và chúng ta là những con người như thế, là người không thể làm gì hơn là phạm tội dù cho chúng ta cố gắng để không phạm tội thế nào đi nữa.

Vì tội lỗi chúng ta không biến mất dù cho chúng ta ăn năn bao nhiêu đi nữa, chúng ta phải nhận thức cách rõ ràng rằng vấn đề tội lỗi không thể giải quyết bởi năng lực riêng của chúng ta và xưng nhận trước Đức Chúa Trời rằng chúng ta là những tội nhân. Chúng ta cũng nhận ra lẽ thật này nên chúng ta phải xưng nhận rằng, “Tôi là một tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời” – không phải bởi sự khiêm nhường hay bởi Giáo lý xưng tội mà là bởi lòng thành thật của chúng ta – và khi chúng ta đến trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời và cầu xin lòng thương xót của Ngài, Ngài sẽ giải quyết tất cả mọi nan đề tội lỗi của chúng ta một lần đủ cả như Ngài đã chữa lành bệnh cho người phung.

Chỉ những ai tỏ bày chính mình họ trước Đức Chúa Trời như một tội nhân hoàn toàn, cầu xin sự thương xót của Ngài, và xưng với Ngài rằng, “Tôi không thể tránh khỏi bị quăng vào địa ngục vì tôi đầy dẫy tội. Lạy Chúa, xin thương xót tôi.” Chỉ những người như thế mới nhận được ân điển của Chúa.

Rô-ma 3:10 tuyên bố, “Không có một người công bình, dẫu một người cũng không.” Câu này Phao-lô nói cho những người chưa nhận sự tha tội. Chúa Jêsus không đến thế gian này để làm cho tội nhân trở nên công chính sao? Không có vấn đề tha thứ phân nữa. Tuy nhiên, bất hạnh thay, Có quá nhiều người có số phận như thế trong Cơ đốc giáo ngày nay. Họ tin rằng tội lỗi được tha thứ khi nào họ cầu nguyện ăn năn. Tội lỗi của chúng ta không phải là một cái gì đó có thể được tẩy xóa bởi sự cầu nguyện ăn năn.

Chúa Jêsus là Đấng đã thực hiện hoàn thành sự chữa lành tội lỗi cách hoàn hảo. Chúa Jêsus không dạy rằng tội lỗi chúng ta được chia làm hai, nguyên tội và kỹ tội, hay Ngài nói khi Ngài cất nguyên tội của chúng ta, còn kỹ tội của chúng ta thì chỉ được tha thứ khi dâng lời cầu nguyện ăn năn. Đức tin của những ai tin như thế là đức tin nữa vời, và người như thế sẽ sống cuộc sống còn lại như là một tội nhân, chết như một tội nhân, và bị ném vào địa ngục như một tội nhân.

Đức Chúa Trời không chấp nhận đức tin nữa vời. Nếu chúng ta tin, chúng ta phải tin 100%, và nếu bạn không tin một điểm nhỏ nhất của lẽ thật, thì bạn là người không tin 100% - không có vấn đề tin 50%. Chúa Jêsus không gọi chúng ta là người vô tội bởi bao phủ một lớp mỏng trên tội lỗi chúng ta trong khi chúng ta còn ở trong tội lỗi vì sự không tin của chúng ta. Khi chúng ta biết Kinh thánh cách chính xác, chúng ta có thể nhận thấy rằng Chúa Jêsus gọi chúng ta là vô tội vì Ngài thật sự cất tội lỗi chúng ta và hoàn toàn tẩy sạch chúng.

Trong vòng những người lãnh đạo tôn giáo của Cơ đốc giáo hiện nay, có những người tuyên bố rằng Chúa Jêsus cất nguyên tội nhưng không cất kỷ tội của chúng ta. Kinh thánh không nói về nguyên tội và kỹ tội, và không đề cập đến những việc như thế. Trước Chúa Jêsus, tất cả tội, tội lớn và tội nhỏ, từ những người được sanh ra đến những người thuộc về chúng ta và với những người chấp nhận hành động riêng của chúng ta – thật vậy, mỗi tội đều là giống nhau, tất cả đều biểu hiện là tội lỗi của thế gian. Nước là nước, dù là nước đường mương hay nước từ vòi nước.

Không một ai biết chắc chắn người ta phân biệt nguyên tội và kỹ tội khi nào. Vì nhiều lãnh đạo Cơ đốc giáo chính họ không được tái sanh, họ không biết thế nào để giải quyết nan đề của tội lỗi và vì họ không biết, họ đã biến Cơ đốc giáo trở thành chỉ là một tôn giáo, tuyên bố rằng Đức Chúa Trời chỉ tha thứ tội nếu chúng ta ‘ăn năn’ tội của chúng ta. Từ ‘ăn năn’ thì khác xa với từ ‘xưng nhận’ (I Giăng 1:19)

Ăn năn là gì? Nó chỉ có nghĩa là quay lại; nó không có nghĩa là cầu nguyện với Đức Chúa Trời để nhận được sự tha thứ tội. Đức Chúa Trời phán rằng Ngài muốn chúng ta dâng lên Ngài của lễ để cầu xin sự thương xót và ân điển của Ngài. Có lòng thương xót đối với những linh hồn hướng về địa ngục vì tội lỗi, Đức Chúa Trời muốn cứu chúng ta – đây là tất cả những gì mà lòng Ngài hướng đến. Những gì mà lòng Ngài mong muốn là làm cho những kẻ có tội trở nên vô tội và thánh khiết qua Đức Chúa Jêsus Christ và như thế họ trở nên những phần tử trong Vương quốc của Ngài, và thật vậy Ngài đã hoàn thành nó cách trọn vẹn.

Rô-ma 6:23 noí rõ,“Vì tiền công cảa tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.” Người đầy dẫy tội không có con đường nào khác trừ ra bị ném vào địa ngục, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống với Chúa đời đời. Sự ban cho của Đức Chúa Trời cho chúng ta là làm cho chúng ta trở nên vô tội.

Có quá nhiều người trong những ngày này tin vào sự tha tội trong phương cách suy nghĩ của con người tạo nên hay theo cách con người, bị hướng thẳng vào địa ngục. Họ nghĩ rằng họ có thể vào thiên đàng bởi hành động cống hiến riêng của họ, như trung tín dâng một phần mười, dâng hiến nhiều, dâng lời cầu nguyện ăn năn, và tham gia giờ cầu nguyện sáng. Nhưng tất cả những điều đó là sai lầm.

Chúng ta giả sử rằng một người nào đó qua đời và đến trước Đức Chúa Trời. Đứng trước sự hiện diện của Ngài, nguời này nói, “Con người tội lỗi này với nhiều sai lầm đã đến trước Ngài.” Chúa chúng ta sẽ nói gì? Ngài sẽ nói những gì mà Ngài đã nói trong Ma-thi-ơ 7:21-23: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!”

Đức Chúa Trời không phải là Cha của tội nhân, cũng không là Chúa của kẻ tội lỗi, nhưng là Cha của người công chính và Chúa của người tái sanh là người nhận sự tha thứ tội. Dù những người nói trên nói, “Lạy Chúa, sao Ngài không biết tôi? Vì Ngài tôi làm hết sức mình để làm chứng về Danh Ngài, và tôi đã cống hiến cả đời tôi cho Ngài,” Đức Chúa Trời trả lời cách đơn giản rằng, “Làm thế nào ngươi đòi hỏi là con ta khi ngươi đầy tội lỗi. Hãy ném vào địa ngục, ngươi là kẻ hành động gian ác.”

Điều được xét trước tiên cho tội nhân là họ phải nhận sự tha thứ tội bởi tin vào Lời Đức Chúa Trời ngay bây giờ. Đây là một đòi hỏi khẩn cấp nhất. Làm thế nào chúng ta tập họp những người chưa nhận sự tha tội vào trong Hội thánh của chúng ta và gọi họ là thánh đồ? Nơi nào trên thế gian này có thể tìm thấy thánh đồ đầy tội không? Người có tội không là thánh đồ, nhưng đơn giản họ là tội nhân.

Đức Chúa Trời tuyên bố trong Ô-suê 4:6, “Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết. Bởi ngươi bỏ sự thông biết thì ta cũng bỏ ngươi, đặng ngươi không làm thầy tế lễ cho ta nữa; bởi ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời mình, thì ta cũng sẽ quên con cái ngươi.”

Biết Đức Chúa Trời là nền tảng của sự hiểu biết, và dù thế nào đi nữa con người không thể đọc được tâm trí Ngài hay đặt sự hiểu biết của riêng họ trên nền tảng của tháp Ba-bên, nhưng họ cống hiến nhiều cố gắng cho hành động hay việc làm của họ. Đó là lý do tại sao Chúa nói, “Ta không biết ngươi.”

Chúng ta chỉ có thể được tạo nên vô tội bởi tin trọn vẹn vào Lời, 100 phần trăm. Chúng ta phải có đức tin hoàn toàn tin cậy vào Đức Chúa Trời, và nói, “Ngài có thể làm tôi sạch tội.” Đức tin được gọi là nên thánh dần dần, mà nó tuyên bố rằng Đức Chúa Trời tẩy sạch chúng ta dần dần từ bước một thì không phải là đức tin của sự cứu rỗi.

Đức tin của Đấng Christ không được tạo thành chỉ bởi sự thực hành tôn giáo mà qua đó chúng ta có thể đạt đến sự cứu rỗi của chúng ta bởi những cố gắng riêng của chúng ta và sự luyện tập đạo đức như sự nhấn mạnh của Phật giáo trên sự tốt lành và lòng nhân từ, nhưng nó được thiết lập trên sự cứu rỗi của ân điển đến từ trên mà không bởi cố gắng của riêng chúng ta – đó là, bởi tình yêu một chiều của Chúa đã được ban xuống cho con người đang chết đuối để cứu họ ra khỏi sự chết chắc chắn của họ.

Như người phung được chữa lành lập tức bởi tình yêu và quyền năng của Chúa chúng ta, chúng ta cũng có thể được cứu ra khỏi tội ở trong lòng của chúng ta bởi tình yêu và quyền năng của Chúa. Khi Chúa chúng ta chữa lành người phung, Ngài nói với ông, “Hãy giữ, chớ nói cùng ai; song hãy đi tỏ mình cùng thầy cả, và dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để làm chứng cho ho.”



Của lễ mà Môi-se truyền chỉ về Chiên Con của Đức Chúa Trời


Lê Vi Ký 1:1-4 nói: “Đức Giê-hô-va từ trong hội mạc gọi Môi-se mà phán rằng: Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi người nào trong vòng các ngươi dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, thì phải dâng súc vật, hoặc bò, hoặc chiên. Nếu lễ vật của người là của lễ thiêu bằng bò, thì phải dùng con đực không tì vít, dâng lên tại cửa hội mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài đẹp lòng nhậm lấy. Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người.”

Chúng ta thấy từ câu 2 “của lễ mà Môi se truyền” là một vật nuôi, trong một bầy hay đàn. Sau khi ban luật pháp cho con người, Đức Chúa Trời ban cho họ Đền tạm để họ có thể nhận ra rằng họ là tội nhân. Qua hệ thống của lễ của Đền tạm này, Ngài dạy chúng ta thế nào Ngài chuyển tất cả tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên – và cũng là tội lỗi của chúng ta – qua chiên con sinh tế và bằng cách ấy Ngài tha tội cho chúng ta.

Đức Chúa Trời yêu chúng ta và để cứu chúng ta ra khỏi tội, Ngài chuẩn bị một của tế lễ mà nó phải chết để thay thế cho chỗ của chúng ta. Đó là chiên và bò đực tế lễ. Khi thầy tế lễ đặt bàn tay của họ trên đầu của tế lễ thiêu (để chuyển qua, dời chổ), của lễ được chấp nhận bởi Đức Chúa Trời, và của tế lễ này chuộc tội chúng ta.

Khi người ta nhận sự đặt tay bởi một ai đó mà người ấy bị quỉ kiểm soát, thì họ cũng trở thành kẻ bị quỉ ám. Đặt tay trên một người có nghĩa là“chuyển qua”; khi thầy tế lễ đặt tay trên đầu con dê, tội của dân Y-sơ-ra-ên chuyển qua trên đầu nó (Lê Vi Ký 16:21). Vì thế khi tội được chuyển qua con dê, và khi con dê này bị giết trong vị thế của chúng ta và huyết của nó được dâng lên cho Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời chấp nhận huyết này và tha tội cho họ.

Làm thế nào chúng ta nhận sự tha thứ tội lỗi của chúng ta? Chúng ta cần mang lấy bằng chứng này. Chứng cớ của sự cứu rỗi chỉ được tìm thấy trong Ngôi Lời, và nó không được minh chứng bởi những chứng cớ của sự hiện thấy, tiên tri, hay nói tiếng lạ. Chỉ bởi Lời của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể minh chứng được thế nào chúng ta là tội nhân và thế nào chúng ta được cứu khỏi tội của chúng ta. Sự minh chứng này có hiệu lực chứng minh trước Đức Chúa Trời, trước Satan và trước con người.

Lê Vi Ký 4:27-31 nói rõ, “Nếu một người nào trong dân chúng, vì lầm lỡ phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va mà làm điều không nên làm, và vì cớ đó phải mắc tội; khi nào người ta tỏ cho người đó biết tội mình đã phạm, thì người phải vì cớ tội mình dẫn đến một con dê cái không tì vít chi, dùng làm của lễ, nhận tay mình trên đầu con sinh tế chuộc tội, rồi giết nó trong nơi giết con sinh dùng làm của lễ thiêu. Thầy tế lễ sẽ nhúng ngón tay mình trong huyết, bôi trên các sừng bàn thờ về của lễ thiêu, và đổ hết huyết dưới chân bàn thờ; rồi, gỡ hết mỡ như cách gỡ mỡ về của lễ thù ân, đem xông trên bàn thờ, làm của lễ có mùi thơm dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha.”

Khi một thường dân hay thầy tế lễ phạm tội không cố ý, họ mang một con chiên, chuyển tội của họ qua đầu nó, và rồi dâng nó lên cho Đức Chúa Trời. Việc đặt tay có nghĩa là chuyển tội, và hy sinh (chết) có nghĩa là chết thay chỗ cho người khác.

Qua của tế lễ hàng ngày, Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta rằng Chúa Jêsus đến thế gian này, và giống như những con chiên, con dê, Ngài chấp nhận tất cả tội lỗi hàng ngày chuyển qua cho Ngài qua Báp-tem của Giăng Báp-tít.

Tất cả người dân trong Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ Cựu Ước nhận sự tha tội của họ qua việc tin điều này. Khi họ phạm tội không cố ý, nhận biết tội của họ qua Luật pháp, họ lập tức mang một con chiên và xưng tội của họ bởi việc đặt tay trên đầu con vật. Rồi thầy tế lễ nhận của dâng này, cắt cổ nó cách công khai, lấy huyết của nó, đặt huyết đó trên sừng của bàn thờ của lễ thiêu (sách phán xét trên thiên đàng), và rồi rải phần còn lại xuống đất và trên bàn thờ. Đây là cách thế nào dân Y-sơ-ra-ên nhận sự tha tội.

Sừng của bàn thờ của lễ thiêu chỉ tỏ Sách của Việc Làm (Book of Deeds) đó là Sách Phán xét (Book of Judgment). Bất cứ khi nào chúng ta phạm tội, Đức Chúa Trời viết tội của chúng ta vào ‘Sách phán xét’ trên Thiên đàng, và Ngài cũng ghi chúng vào lòng của chúng ta. Vì con người không biết xấu hổ và cố gắng lừa dối ngay cả với Đức Chúa Trời, Ngài ghi tội lỗi của họ vào Sách Việc Làm và vào trong lòng họ. Đó là lý do tại sao những người không nhận sự tha tội cầu nguyện, tội trong lòng họ tuôn ra, và họ sẽ cầu nguyện, “Lạy Chúa xin tha tội cho tội nhân này.” Vì thế chúng ta phải biết thế nào Chúa Jêsus, Đấng đến trong thế gian, chấp nhận tất cả tội hàng ngày của chúng ta chuyển qua Ngài. Chỉ như thế chúng ta có thể được thoát khỏi tội.

Khi dân sự Y-sơ-ra-ên phạm tội, họ đem một con chiên, chuyển tội của họ qua đầu nó (đặt tay của họ trên đầu nó), và nhờ cách ấy họ được tha tội. Rồi thầy tế lễ giết con chiên, đặt huyết nó trên sừng của bàn thờ của lễ thiêu. Huyết là sự sống của mọi loài xác thịt (Lê Vi Ký 17:14). Huyết chuộc tội. Khi huyết này được đặt trên bốn cái sừng của bàn thờ, Đức Chúa Trời nhìn thấy nó, biết rằng tội lỗi của họ đã bị phán xét qua chiên con, và vì thế Ngài không hình phạt những ai đã chuyển tội qua đầu con chiên.

Vì thế, Đức Chúa Trời dùng sự chết của con thú thay cho con người là tình yêu vô lượng của Ngài. Khi con người phạm tội, họ chắc phải chết, nhưng vì Đức Chúa Trời yêu họ, Ngài giết con thú thay vào vị thế của con người. Đây là sự công bình của Đức Chúa Trời. Đó là của lễ hàng ngày.


Lê Vi Ký 16:29-34 nói rõ, “‘Điều nầy sẽ là một lệ định đời đời cho các ngươi: đến mồng mười tháng bảy, các ngươi phải ép linh hồn mình, không nên làm một việc nào, bất kỳ người bổn xứ hay là kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi; vì trong ngày đó người ta sẽ làm lễ chuộc tội cho các ngươi, để các ngươi được tinh sạch: chắc các ngươi sẽ được sạch những tội lỗi mình trước mặt Đức Giê-hô-va vậy. Ấy sẽ là một lễ Sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi, phải ép linh hồn mình; đó là một lệ định đời đời vậy. Thầy tế lễ đã được phép xức dầu và lập làm chức tế lễ thế cho cha mình, sẽ mặc lấy bộ áo vải gai, tức là bộ áo thánh, mà làm lễ chuộc tội. Người sẽ chuộc tội cho nơi thánh, cho hội mạc, cho bàn thờ, cho những thầy tế lễ, và cho cả dân của hội chúng. Mỗi năm một lần phải làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho sạch các tội lỗi của chúng; ấy sẽ là một lệ định đời đời cho các ngươi vậy.”

Đoạn kinh thánh trên diễn tả nghi lễ của Ngày Đại Lễ Chuộc Tội, mà Đức Chúa Trời đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên để dâng lên cho Ngài qua thầy Tế lễ Thượng Phẩm một lần một năm cho những người không thể dâng của lễ hàng ngày và vì toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Qua của dâng này, toàn thể dân Y-sơ-ra-ên nhận được sự tha tội của cả năm.

Lê Vi Ký 16:6-10 nói, “A-rôn sẽ dâng con bò tơ mình làm của lễ chuộc tội, và người sẽ làm lễ chuộc tội cho mình và cho nhà mình.Kế đó người phải bắt hai con dê đực, đem để trước mặt Đức Giê-hô-va, tại nơi cửa hội mạc.Đoạn, A-rôn bắt thăm cho hai con dê đực, một thăm về phần Đức Giê-hô-va, một thăm về phần A-xa-sên.A-rôn sẽ biểu dẫn con dê đực bắt thăm về phần Đức Giê-hô-va lại gần và dâng nó làm của lễ chuộc tội. Còn con bắt thăm về phần A-xa-sên, sẽ để sống trước mặt Đức Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội trên nó, rồi thả nó ra nơi đồng vắng đặng nó về A-xa-sên.”

Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên một hệ thống của tế lễ mà qua đó họ có thể không những chuyển tội hàng ngày nhưng cũng tội cả năm của họ vào của lễ và được tha thứ những tội này một lần đủ cả. A-rôn là anh của Môi- se và là thầy tế lễ cả. A-rôn bắt một trong hai con dê đem vào trong sân của Đền tạm và chuyển tội của tất cả dân Y-sơ-ra-ên qua nó bằng cách đặt tay trên đầu nó. Rồi ông giết con dê và lấy huyết của nó đem vào bên trong bức màn, vào nơi Chí Thánh. Huyết này phải được đem vào nơi Chí Thánh.

Đền tạm được chia ra làm Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm chỉ có thể vào nơi Chí Thánh là nơi đặt hòm Hòm Giao Ước khi nào ông có mang Huyết của sinh tế theo. Khi thấy Huyết, Đức Chúa Trời cho phép A-rôn đi vào nợi chí Thánh. Trong việc giết con dê, có nghĩa là tất cả tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên đã được nhận, rồi A-rôn đi vào Nơi Chí Thánh với Huyết và rải nó ra bằng tay của ông trên nấp thi ân về phía đông bảy lần. Vì những cái chuông gắn vào áo choàng của Ê-phót, nên bất cứ khi nào ông rải huyết, chúng vang lên những âm thanh, những người dân đang tụ họp bên ngoài Đền tạm sẽ nghe tiếng chuông ấy, Đức Chúa Trời xác định với họ rằng tội của họ đã được chuộc trước Ngài.

Lê Vi Ký 16:20-22 viết, “Khi thầy tế lễ đã làm lễ chuộc tội cho nơi thánh, cho hội mạc, và cho bàn thờ rồi, thì người phải dâng con dê đực còn sống kia. A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu con dê đực còn sống, xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc nầy mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng. Vậy, con dê đực đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa.”

Muốn biết thêm về “Đức tin trong bài tín điều các Sứ đồ”? Xin ấn vào biểu tượng bên dưới để nhận sách miễn phí của Tín điều các Sứ đồ.
The faith of the Apostles' creed

Trong hai con dê, con còn lại là con dê “đưa đầu ra gánh chịu” (scapegoat), (“aza’zel” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “Con dê hãy đi”) Trước sự chứng kiến của tất cả người dân Y-sơ-ra-ên đứng bên ngoài cổng của đền tạm, A-rôn xưng nhận tất cả những vi phạm của ngưới Y-sơ-ra-ên. Đặt tất cả tội lỗi này lên đầu của con dê và rồi đuổi nó ra nơi đồng vắng mênh mông để chết tại đó. Sinh tế mang tội lỗi thì chắc chắn phải chết. Bởi con dê sinh tế này, Đức Chúa Trời giải thoát tất cả dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi tội. Môi se không truyền điều lệnh gì khác hơn là điều này. Tất cả dân sự trong thời kỳ Cựu Ước nhận sự tha tội theo phương cách này.

Qua hệ thống của tế lễ này, Đức Chúa Trời báo trước với chúng ta rằng Chúa Jêsus sẽ đến thế gian, mang lấy tội lỗi của nhân loại giống như con dê này, và tẩy sạch tất cả tội lỗi phạm hàng ngày và trong suốt cuộc sống của họ. Dân sự trong thời Cựu Ước nhận được sự tha tội qua của tế lễ này. Bây giờ, bạn là dân sự trong thời kỳ Tân Ước phải nhận thức thế nào Đức Chúa Trời đã giải quyết tất cả tội lỗi của thế gian cùng tất cả tội lỗi của bạn và thế nào Ngài đã ban sự tha tội cho tất cả tội lỗi của bạn.

Cựu Ước và Tân Ước phù hợp nhau. Chúng ta nên khám phá ra những gì trong Tân Ước mà Chúa Jêsus đã làm cho chúng ta.

Trở lại

 


Sách in   |  

 
Bible studies
    Bài giảng
    Quan điểm đức tin
    Phúc âm là gì?
    Những thuật ngữ Kinh thánh
    Hỏi Đáp về đức tin Cơ Đốc
 

register as a coworker
Partner's Zone
MFC
   
Copyright © 2001 - 2019 The New Life Mission. All Rights Reserved.